Kinh doanh : Mr Trần Vũ - DĐ : 0914458877 - Email : kinhdoanh@thachcao.vn - Tư vấn : Mr Lê Xuân Tấn - DĐ : 0914173577 - Email : tuvan@thachcao.vn - Thông tin : Ms Hoàng Thị Bích Hà - DĐ : 0914134877 - Email : thongtin@thachcao.vn
Hôm nay :

DNTN SX&TM TỰ DO hướng đến mục tiêu trở thành nhà cung ứng bột thạch cao số 1 Việt Nam, nhà cung ứng đá thạch cao lớn tại Việt Nam. Ngoài thạch cao, chúng tôi hiện cung ứng thêm một số hóa chất công nghiệp sau:
+ Phụ gia dầu FO: nhằm giảm độ nhớt, nâng cao hiệu suất đốt của dầu FO
+ Keo fixative: dùng phun lưới in lụa trong sản xuất gạch ceramic
+ Sáp đánh bóng: chống bám bẩn, tạo độ bóng gạch granit

Kỹ thuật tạo hình sứ vệ sinh - Chiến lược lựa chọn phương pháp hiệu quả nhất

Sự phát triển của công nghệ tạo hình đã mang lại nhiều thay đổi lớn trong sản xuất gốm sứ, đặc biệt sản xuất sứ vệ sinh. Do đó làm cho các giải pháp công nghệ này càng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết với kỹ thuật đúc truyền thống bằng khuôn thạch cao đúc bằng khuôn nhựa, đúc áp suất trung bình và đúc áp suất cao toàn bộ trong các điều kiện khác nhau.
Các nhà sản xuất hàng đầu cho rằng số lượng thông số phải được xem xét nhiều đến mức ngay cả các chuyên gia đang cố xác định công nghệ nào thích hợp nhất để khẳng định được nên chọn loại nào. Rõ ràng quá trình lựa chọn cần phải thấu đáo toàn diện, không chỉ chú ý đến các thiết bị cụ thể mà còn đến tất cả các yếu tố có liên quan đến công nghệ sản xuất sứ vê sinh.
Bài viết này bắt đầu bằng một phân tích về những công nghệ sẵn có, tiếp theo sau là những bài viết có liên quan đến cách đúc truyền thống và đúc áp suất để sản xuất sứ vệ sinh.
Kỹ thuật đúc: phân tích kinh tế  kỹ thuât.
Để hỗ trợ quá trình chọn phương pháp đúc, đã sử dụng một phần mềm thiết kế riêng để đánh giá tính kinh tế của mỗi kỹ thuật đúc về khối lượng sản xuất. Số liệu phân tích được trình bày trong bài viết này sẽ xem xét hai bối cảnh sản xuất giả định sản xuất bệ xí (WC) và lavabô. Chi phí đúc cho cả WC và lavabô đã được tính cho từng công nghệ, theo yêu cầu về khối lượng đầu ra, chi phí nhân công, thời gian sử dụng của loại sản phẩm được sản xuất và những biến đổi về đầu ra do nhu cầu dao động. Đơn giá được tính (Lire ý/sản phẩm) có tính đến quá trình đúc (không tính công đoạn hoàn thiện) và bao gồm các chi phí có liên quan đến thiết bị và khấu hao tài sản, nhân công, năng lượng, nước thải và xử lý nước.
Sản xuất bệ xí (WC):
Khi xem xét việc đúc WC, các công nghệ sau đây được đưa ra để so sánh:
+ Đúc áp suất thấp – mang tính truyền thống, với thạch cao và với nhựa thông;
+ Đúc áp suất trung bình
+ Đúc áp suất cao
Bốn kết quả đầu ra theo giả thuyết, mỗi kết quả gồm ba phần được xem xét như sau:
+ Sản lượng đầu ra thấp: 1000-3000sản phẩm/năm;
+ Sản lượng đầu ra trung bình thấp: 3000-9000sản phẩm/năm;
+ Sản lượng đầu ra trung bình cao: 9000-15000 sản phẩm/năm.
+ Sản lượng đầu ra cao: 15000-21000sản phẩm/năm.
Các yếu tố thứ yếu được xem xét là: chi phí nhân công 50 triệu lire/năm/công nhân, độ bền của một sản phẩm là 10 năm, và khả năng biến đổi về đầu ra là +/-10.
So sánh các giá trị tuyệt đối riêng lẻ cũng được nêu bật được những biến đổi đơn giá đáng kể giữa các loạt sản phẩm được sản xuất với số lượng nhỏ và các loạt sản phẩm được sản xuất với số lượng lớn hơn, ngay cả khi áp dụng công nghệ tạo hình tối ưu.  Ngay cả phân tích đầu tiên cũng cho thấy cách đánh giá tính thích hợp của một phương pháp đúc nhất định (xét về định lượng bằng cách quy hoạch này để tiến hành đầu tư. Tuy nhiên, sự lựa chọn đúng đắn cũng còn phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường nên cần phải tính đến các điều kiện thứ yếu, giả sử chúng có thể thay đổi theo thời gian. Trước hết, chúng ta nên dự đoán điều gì sẽ xảy ra nếu những thay đổi do nhu cầu thị trường đòi hỏi phải điều chỉnh nhiều hơn các mức đầu ra cho từng mặt hàng hơn là số lượng mong đợi. Thứ hai, chúng ta cần phải tìm ra cách quản lý có hiệu quả tỷ lệ các loạt hàng khácnhau để thích ứng với các biến động thị trường về số lượng yêu cầu.
Tuy nhiên, thay đổi đáng kể về tuổi thọ dự kiến của mỗi mặt hàng lại là vấn đề khác. Tuổi thọ của sản phẩm 2,5, 10 và 20 năm đã được phân tích và lấy ví dụ về tình hình sản lượng ở mức trung bình. Sản phẩm có tuổi thọ cực ngắn tạo điều kiện thuận lợi cho kỹ thuật đúc khuôn thạch cao như thế nào so với đúc khuôn nhựa.
Cuối cùng là đánh giá tác động của các biến đổi về chi phí lao động. Mặc dù rõ ràng yếu tố này là một gánh nặng đối với toàn bộ ngân sách dùng cho bộ phận đúc. Chỉ ở mức sản lượng cao thì việc giảm chi phí công nhân mới dẫn đến thay đổi thực sự về công nghệ sản xuất tối ưu đã được quan sát: từ kỹ thuật đúc áp suất cao cho đến kỹ thuật đúc khuôn nhựa dẻo.
Sản xuất lavabô:
Đối với các sản phẩm gốm sứ này, các công nghệ sản xuất đúc được sử dụng giống như ở ví dụ trước và có cùng chi phí lao động, tuổi thọ sản phẩm và các số liệu về khả năng biến đổi đầu ra đã được sử dụng. Như với các WC, bốn loại công suất giả thiết đã được xem xét, với ba sản phẩm mỗi loại. Sau đây là bốn cảnh sản xuất khác nhau:
+ Sản lượng thấp: 1000-3000sản phẩm/năm
+ Sản lượng trung bình thấp: 3000-9000sản phẩm/năm;
+ Sản lượng trung bình cao: 9000-  15000sản phẩm/năm;
+ Sản lượng rất cao: 33000-39000sản phẩm/năm.
Về mặt định lượng, sẽ đạt được chi phí đúc tối thiểu đối với sản lượng thấp bằng cách đúc tay (25lít/sản phẩm); ở mức sản lượng trung bình thấp, chi phí đúc sẽ ở thấp nhất với các khuôn đúc thạch cao (14lit/sản phẩm); đối với sản lượng trung bình cao, chi phí thấp nhất với các khuôn đúc nhựa dẻo (10lít/sản phẩm) và đối với sản lượng rất cao, kỹ thuật đúc áp suất cao sẽ giúp giảm thiểu các chi phí (7 lít/sản phẩm) . Việc so sánh các giá trị này sẽ nêu bật được sự khác biệt đáng kể về chi phí giữa việc sản xuất một loạt sản phẩm với số lượng nhỏ và số lượng cực lớn.
Các biến đổi trong các yếu tố “thứ yếu” về tính biến đổi sản lượng, tuổi thọ sản phẩm và chi phí lao động sẽ làm tăng những thay đổi đã được nêu. Các bước dịch chuyển từ các mức sản xuất dự kiến sẽ không gây ra những biến đổi trong kỹ thuật đúc tối ưu, trừ các mức sản lượng rất cao. Trong trường hợp này, kỹ thuật đúc áp suất trung bình sẽ trở nên phù hợp hơn so với kỹ thuật đúc áp suất cao khi mà biến đổi về số lượng sản xuất (so với dự kiến) đạt hoặc vượt quá 30%.
Mặt khác, khi tuổi thọ dự kiến của sản phẩm giảm xuống chỉ còn hai năm ở các mức sản lượng trung bình cao thì ảnh hưởng đó sẽ rất trái ngược. Trong điều kiện đúc áp suất cao có hiệu quả kinh tế hơn so với đúc áp suất trung bình.
Cuối cùng, việc giảm đáng kể chi phí la động (từ 50 xuống còn 30 triệu lít/năm) khiến cho kỹ thuật đúc khuôn nhựa dẻo được ưa chuộng hơn so với kỹ thuật áp suất trung bình cho trường hợp sản lượng trung bình cao.
Về các cấn đề quản lý tổ chức, các dữ liệu quan trọng nhất về sản xuất quy mô lớn, thông qua toàn bộ các điều kiện thứ yếu cụ thể trước đó. Trường hợp được nói đến chỉ rõ rằng đầu tư và các chi phí vận hành cho công nghệ áp suất cao (1máy ép) rõ ràng là thấp hơn bất kỳ biện pháp thay thế nào khác.
Sản xuất một hỗn hợp sản phẩm:
Cũng có thể áp dụng cùng một biện pháp phân tích cho các mô hình sản xuất phức tạp được dùng làm tiêu chuẩn trong công nghiệp. Có thể đạt được điều này bằng cách coi việc sản xuất như một hỗn hợp sản phẩm, mỗi sản phẩm được cụ thể hoá bằng khối lượng sản xuất. Bằng cách này có thể chứng minh việc sử dụng một tập hợp gốm các công nghệ đúc tối ưu rõ ràng thuận tiện hơn là làm theo một phương pháp đơn lẻ không linh hoạt, như đã nêu.
Rõ ràng là các công nghệ đúc khác nhau cùng tồn tại trong sản xuất công nghiệp, nhưng  dù sao thì khó có thể khẳng định rằng các công nghệ này luôn được áp dụng theo cách giảm thiểu các chi phí một cách có hiệu quả.
Kết luận.

Các công nghệ đúc áp suất cao, trung bình và thấp có sẵn hiện nay đều là những biện pháp thay đổi có hiệu quả mà ở đó bao gồm các phạm vi sản xuất cụ thể. Đối với mỗi dây chuyền sản phẩm, chúng ta dễ dàng xác định được công nghệ nào sẽ mang lại chi phí đúc thấp nhất.
Tuy nhiên, việc lựa chọn không phải lúc nào cũng được cho là đúng mà trong đó các yếu tố như nhu cầu, tuổi thọ sản phẩm hoặc chi phí lao động có thể khác nhau. Các ví dụ được đưa ra sẽ chứng minh cách có thể kiểm tra các yếu tố này để xác định được cấu hình tối ưu cho mỗi tình hình sản xuất.

Nguồn: Bộ môn Vật liệu xây dựng-ĐH Xây Dựng