Kinh doanh : Mr Trần Vũ - DĐ : 0914458877 - Email : kinhdoanh@thachcao.vn - Tư vấn : Mr Lê Xuân Tấn - DĐ : 0914173577 - Email : tuvan@thachcao.vn - Thông tin : Ms Hoàng Thị Bích Hà - DĐ : 0914134877 - Email : thongtin@thachcao.vn
Hôm nay :

DNTN SX&TM TỰ DO hướng đến mục tiêu trở thành nhà cung ứng bột thạch cao số 1 Việt Nam, nhà cung ứng đá thạch cao lớn tại Việt Nam. Ngoài thạch cao, chúng tôi hiện cung ứng thêm một số hóa chất công nghiệp sau:
+ Phụ gia dầu FO: nhằm giảm độ nhớt, nâng cao hiệu suất đốt của dầu FO
+ Keo fixative: dùng phun lưới in lụa trong sản xuất gạch ceramic
+ Sáp đánh bóng: chống bám bẩn, tạo độ bóng gạch granit

Tính dẻo của phối liệu gốm

1. Tính dẻo và khả năng tạo hình của phối liệu gốm
Gốm Bát TràngTa có thể nói rằng, ngành gốm sứ được hình thành nhờ con người đã biết và ứng dụng một đặc tính quan trọng nhất của đất sét, đó là tính dẻo.
Khi nói đến tính dẻo, chúng ta đều hiểu đang ám chỉ một khái niệm quen biết liên quan đến trạng thái của vật chất. Nhưng việc đặc trưng hoá rõ ràng trạng thái đó ở nguyên liệu và phối liệu gốm lại không đơn giản do tính đa dạng và phức tạp của các mối quan hệ giữa các yếu tố tác động lên nó.
Vì đất sét là nguyên liệu sơ khai nhất và có thể nói, đặc trưng và quan trọng nhất đối với tính dẻo của phối liệu gốm, nên dưới đây ta sẽ sử dụng thuật ngữ tính dẻo của sét làm đối tượng để xét về độ dẻo của nguyên liệu và phối liệu gốm nói chung.
Do tính phức hợp của vấn đề mà từ các phương diện khác nhau có những mô tả khác nhau về độ dẻo và vì vậy không có một phương pháp đo duy nhất nào cho phép ta có được một thông số đặc trưng bao quát đầy đủ  cho trạng thái dẻo của sét.
Đặc trưng cảm quan của tính dẻo của sét là nó vừa có “độ dẻo dai” tốt, lại vừa có “độ chảy dẻo” (Viscose flow) cao, hay nói cách khác là vừa có độ bền kéo cao, vừa có ma sát trong thấp, làm tăng khả năng trượt giữa các phần tử.
Từ đó ta có thể suy ra: trị số dẻo (Pz) tỷ lệ thuận với độ bền kéo và tỷ lệ nghịch với độ bền trượt của sét.
Xem xét ở khía cạnh công nghệ, tính dẻo của sét là khả năng tiếp nhận nước để thành một “trạng thái dẻo”, mà dưới tác dụng của lực cơ học trạng thái này bị biến dạng và hình dạng mới hình thành được giữ nguyên khi lực cơ học ngừng tác động. nhờ có đặc tính này của sét, mà ngay từ thời sơ khai, chỉ bằng hai bàn tay, người cổ xưa đã tạo được hình dạng khác nhau của đồ vật để sau đó qua gia nhiệt thành các sản phẩm phục vụ cho đời sống của mình.
Các yếu tố tác động chủ yếu lên độ dẻo của sét có thể kể đến là:
(1) Chủng loại và lịch sử hình thành của nguyên liệu khoáng sét;
(2) Số lượng và các dạng gia công đã thực hiện ở hỗn hợp;
(3) Thời gian tiếp xúc giữa phối liệu và nước;
(4) Nhiệt độ môi trường xung quanh;
(5) Hàm lượng nước trong hỗn hợp;
(6) Chủng loại và phần trăm chất điện giải…
a. Vai trò của cấu trúc tinh thể
Các khoáng sét đều có cấu trúc lớp. Đặc điểm của cấu trúc này là lực liên kết giữa các lớp yếu hơn nhiều so với lực liên kết giữa các cấu tử trong cùng một lớp, nhờ vậy các lớp dễ dàng trượt so với nhau, dễ dàng tách ra thành từng tấm mỏng, tức là có độ phân tách cao.
Người ta thấy rằng, nội lực chống lại sự tách rời các hạt trong phối liệu gốm lớn gấp 10 lần lực chống lại sự dịch chuyển (đổi chỗ) tương đối - tức là lực trượt - của chúng. Nhờ đặc điểm này mà sét có độ dẻo cao. Chính khả năng trượt tốt này tạo ra cảm giác mỡ màng ở những khoáng có cấu trúc lớp hoàn chỉnh và độ phân tách cao chẳng hạn như talc, mica, các loại sét mịn hoặc bentonit…
Cỡ hạt của sét cũng đóng vai trò quan trọng đối với độ dẻo. Nói chung, khoáng sét có cỡ hạt rất mịn, mà cơ hạt càng mịn thì càng thuận tiện cho việc tạo thành phối liệu dẻo, vì ở đó các mao dẫn nhỏ hơn ở các hạt thô nên chỉ cần một lượng nước cần thiết nhỏ hơn để đạt  tới độ dẻo cực đại.
Thứ tự độ dẻo của một số khoáng sét đã được xác định như sau:
Montmorillonit --> Kaolinit -- > Hectorit -- > Nontronit.
b. Vai trò của nước
Nước có vai trò thiết yếu và dễ nhận ra nhất đối với độ dẻo. Trong phối liệu, nước bao quanh các hạt sét và nằm trong các lỗ xốp. Nhờ sức căng bề mặt lớn, lớp nước hấp thụ này tạo thành những màng mỏng giữ chặt các hạt vật chất rắn với nhau. Khi ta làm giảm sức căng bề mặt của nước bằng một dung môi, qua đó làm yếu hiệu ứng màng giữ này thì sự gắn kết, khả năng hoá dẻo và tạo hình của tập hợp cũng giảm đi. Rất may là phần lớn phụ gia đưa vào nước đều làm tăng sức căng bề mặt của nó.
Phần nước nằm giữa các hạt cũng hoạt động như một chất bôi trơn giúp cho sự di chuyển (dẻo) của các hạt này sẽ dễ dàng hơn.
Ta có thể quan sát thấy, khi trộn nước vào một phối liệu khô, hỗn hợp sẽ chuyển dần từ trạng thái không dẻo sang trạng thái dẻo và tới một tỷ lệ nước nhất định ta sẽ đạt được”trạng thái tạo hình tối ưu” của phối liệu. Lượng nước tương ứng của trạng thái này được gọi là “lượng nước tạo dẻo”. Tuỳ theo phương pháp tạo hình (đổ rót, tạo hình dẻo, ép bán khô và ép khô…) mà lượng nước này cũng thay đổi tương ứng. Trị số dẻo phụ thuộc rất rõ ràng vào hàm lượng nước mà sét hấp thụ. Khi sấy sản phẩm mộc, lượng nước trong phối liệu giảm đi và độ dẻo cũng mất dần.
Kết quả thí nghiệm xác định sự phụ thuộc của lực ép cần thiết để chuyển một phối liệu thành “trạng thái chảy” vào độ ẩm cho thấy: ở huyền phù chứa 50% nước ta chỉ cần một lực là 1bar để làm chảy nó, khi độ ẩm là 35% ta cần một lực 1bar, còn sau đó lực ép cần thiết tăng lên rất mạnh.
Tuy nhiên, do trạng thái dẻo của sét chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố nên đôi khi ta thấy có những “nghịch lý” khi quan sát chúng. Chẳng hạn, người ta vẫn cho bentonit là một loại sét rất dẻo vì khoáng này có cỡ hạt rất mịn và hấp phụ rất nhiều nước. Nhưng ở bentonit, do nước liên kết các mizelle rất chặt đã tạo ra ma sát trong rất lớn, làm giảm mạnh khả năng trượt (mizelle là một nhóm những phân tử riêng biệt được liên kết bởi những lực bên ngoài và có kích thước của các hạt keo). Bởi vậy, khi bị lực tác động vào, bentonit có biểu hiện của một chất dòn.
Trong khi đó, ở sét kaolinit do chỉ một phần nhỏ nước bị hấp phụ chặt vào bề mặt sét nên đã tạo ra khả năng trượt tốt giữa các lớp. Ngoài ra, ở kaolinit việc hấp phụ này rất thuận lợi nhờ có khoảng cách ion trong mạng tinh thể sét gần như bằng khoảng cách phối trí ion của lưỡng cực nước. Sự tương đồng này tạo điều kiện phủ gần như kín bề mặt kaolinit bằng các lưỡng cực nước, và ta có thể coi ở đây không còn là hấp phụ nữa mà là sự song tồn tinh thể.
Nhờ những yếu tố trên, sét kaolinit có khả năng tạo hình tốt hơn bentonit. Mỗi loại sét có một lượng nước tạo dẻo khác nhau. Dưới đây là giá trị nước tạo dẻo của một số sét:
Cao lanh cục:                                     37 – 45%
Cao lanh lọc:                                      44 -  48%
Cao lanh trắng trầm tích:                    28 – 57%
Đất sét chịu lửa:                                  32 – 38%
Đất sét gốm (ball clay):                      25 – 53%
Đất sét gạch ngói:                              13 – 41%
c. Vai trò của phụ gia
Các phụ gia nói ở đây là những chất điện giải ó vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến việc hình thành trạng thái dẻo của phối liệu.
Trong thực tế ít khi tìm thấy những tinh thể lý thuyết ở sét, mà thường chỉ là những “tinh thể thực tế” (real crystals) với những khuyết tật tinh thể khác nhau. Dạng thông thường nhất ở khoáng sét là một số cation hoá trị lớn (Al 3+; Si4+...)trong mạng tinh thể được thay thế bởi những cation kiềm hoặc kiềm thổ hoá trị nhỏ hơn. Kết quả của quá trình này là cân bằng điện tích bị phá vỡ, khoáng sét biểu hiện ra bên ngoài như môt điện tích âm. Trong một môi trường có điện tích, các Cation sẽ bị kéo vào bề mặt hạt sét. Người ta đã lợi dụng đặc tính này trong quá trình tuyển lọc khoáng sét bằng phương pháp điện phân: nếu cho huyền phù sét vào môt điện trường mạnh, các hạt sét mang điện tích âm sẽ bị hút về dương cực và được lấy ra khỏi thiết bị ở trạng thái có hàm lượng nước nhỏ tương tự ép lọc khung bản.
Như đã trình bày ở trên, việc hình thành những màng nước xung quanh các hạt sét có vai trò thiết yếu đối với độ dẻo Nước là một chất lưỡng cực (dipole). Trong huyền phù sét, các cation nói trên sẽ giữ chặt mạnh nhất nhóm (OH) - của nước, tạo ra màng nước cần thiết cho tính dẻo. Nói chung, các ion có kích thước nhỏ và điện tích lớn ở bề mặt sét sẽgiữ màng nước chăt hơn và số lượng nhiều hơn. Một hạt sét như vậy có thể coi như một hạt dẻo riêng biệt.Lực để tách hai hạt dẻo như vậy phụ thuộc vào mối liên kết giữa nước và bề mặt sét. Nếu bề mặt  sét hấp phụ ion kiềm thì lớp màng nước bao quanh sẽ được giữ yếu hơn là H+ hoặc Ca2+ chẳng hạn. Nói một cách khác, ta cần nhiều nước hơn để tạo một phôi liệu có cùng độ dẻo từ sét H+ hoặc sét Ca2+ so với sét Na+, nhưng độ bền mộc thì cao hơn và không dễ dàng thay đổi hình dáng đã tạo nên. Cation H+ là một chất tích tụ mạnh, trong khi anion (OH) là chất phản tích tụ mạnh nhất. Điều đó giải thích tại bao sự thay đổi giá trị pH thường gây ảnh hưởng rất mạnh đến độ dẻo của sét. Các số liệu thống kê cho thấy rất nhiều sét dẻo như sét đỏ, sét gốm (ball clay)...có tính axit (pH<7), còn phần lớn cao lanh có tính kiềm (pH>7). Dựa vào đặc điểm này, người ta đã sử dụng các hoá chất tương ứng để xử lý, cải thiện giá trị dẻo cho các loại sét, chẳng hạn natri carbonat cho sét axit và axit acêtic cho sét kiềm. Theo Barker và Truoc thì giá trị pH tối ưu cho sét axit là 6,0 -8,5 còn cho sét kiềm là 7,3 – 10,5.
Sự cải thiện độ dẻo ở một sét đã qua xử lý có thể tóm tắt như sau:
- Dẻo hơn so với khi chưa xư lý,
- Cần  ít nước hơn khi gia công đạt độ dẻo mong muốn,
- Cần lực nhỏ hơn để ép vào khuôn (vì dẻo hơn),
- Cấu trúc vật lý được cải thiện, và với những sét dễ phân lớp thì khuynh hướng phân lớp này giảm đi,
- Sản phẩm dễ tạo hình hơn, ít nứt và bể góc hơn,
- Sản phẩm đã sấy khô ít nhạy cảm với nước hơn và có thể ngâm trong nước ~ 10 phút mà không bị tan rã,
- Nhiêt độ nung giảm và vật liệu chặt hơn,
- Sản phẩm nung có độ bền nén và uốn cao hơn,
- Độ hút nước giảm đi, chủ yếu do sự phân lớp giảm đi,
- Màu của phối liệu thường sáng hơn.

2. Khoảng làm việc của sét dẻo
Gốm Bầu TrúcNếu ta có một hỗn hợp sét với các khoáng và các ion kim loại thích hợp cũng như có cỡ hạt chấp nhận được cho gốm sứ, thì độ dẻo của nó phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng nước trong hỗn hợp. Bắt đầu từ một hỗn hợp bột khô, khi cho nước vào, đầu tiên nó vón cục, rồi dần dần các hạt sét liên kết với nhau, lúc đó sét đã đạt tới giới hạn dưới của trạng thái dẻo và được gọi là giới hạn dẻo.
Khi hàm lượng nước tiếp tục tăng, sẽ tới lúc phối liệu dẻo trở nên dính khi ta tiếp xúc với nó Đó chính là giới hạn trên của trạng thái dẻo hơn hay còn gọi là giới hạn chảy (nhão).
3. Tác dụng của lực tạo hình
Mặc dù ta chấp nhận định nghĩa tính dẻo là khả năng giữ nguyên hình dạng khi lực ngừng tác động, nhưng điều này cũng mang một tính tương đối ở những điều kiện nhất định Khi sự biến dạng xảy ra quá nhanh, hiện tượng trên chỉ xuất hiện sau khi lực tác động đã ngừng một thời gian Trong khoảnh khắc ngay sau khi quá trình tạo hình vừa chấm dứt, sét có xu thế muốn trở về trạng thái ban đầu “Trí nhớ của sét” chống lại sự biến dạng vừa trải qua. Hiện tượng này có thể quan sát được ở tất cả các dạng tạo hình: thỏi đất nở khi ra khỏi máy đùn, gạch men ép bán khô nở ra khi lấy khỏi khuôn và các nhà công nghệ luôn phải tính đến độ nở này khi thiết kế khuôn...
Theo S.R.Hind, độ dẻo sẽ được cải thiện khi gia công ở áp lực cao, vì khi đó các mao dẫn nhỏ đi, hấp thụ nước ít hơn. Đó chính là cơ sở của phương pháp ép bán khô và ép khô.
4. Quan hệ giữa áp lực tạo hình và độ ẩm phối liệu
Điều hiển nhiên là để tạo hình thì lực tác động phải đủ lớn để thứng lực liên kết giữa các phần tử trong phối liệu. Tức là, khi phối liệu có độ dẻo càng cao, thì việc tạo hình càng dễ dàng. Nhờ vậy, khi áp dụng phương pháp ép áp lực cao ta có thể đạt được cùng độ dẻo với hàm lượng nước nhỏ hơn nhiều so với ép dẻo chẳng hạn.
Moore đã xác định quan hệ giữa lực ép và hàm lượng nước cần thiết để làm chảy một phối liệu gốm. Kết quả được trình bày ở bảng bên dưới:
Độ ẩm                  Áp lực
(%)                         (bar)
50                             0,1
40                             0,4
35                             1,0
30                             2,5
25                             10
20                              40
17                             100
15                              200
Ta thấy, từ độ ẩm < 30% trở xuống, áp lực cần thiết để làm chảy phối liệu tăng lên rất nhanh và đường biểu diễn có độ dốc rất lớn.
Khi sấy, những sản phẩm ép khô hoặc bán khô sẽ mất ít nước, để lại ít những chỗ trống bên trong do đó chúng có độ co sấy nhỏ và độ bền mộc cao hơn tạo hình bằng các phương pháp khác.
5. Xác định độ dẻo
Cơ chế biến dạng của sét rất phức tạp cho nên tới nay người ta chưa có được một định nghĩa duy nhất rõ ràng và một phép đo đặc trưng bao quát cho giá trị được gọi là độ dẻo này. Vì thế, hiện đang tồn tại nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá độ dẻo.
(a) Từ nhận định rằng, một loại sét chứa nhiều thành phần keo sẽ dẻo hơn và có sự khác biệt lớn về hàm lượng nước giữa trạng thái dẻo và trạng thái chảy (nhão), vì vậy Atterberrg đã coi hiệu số hàm lượng nước giữa 2 trạng thái này là giá trị đặc trưng cho độ dẻo của sét. Người ta trộn mẫu sét với nước thành một hỗn hợp nhão, sau đó tạo mẫu (lăn) trên một bề mặt hút ẩm để làm giảm dần hàm lượng nước trong mẫu. Khi hàm lượng nước còn cao, phối liệu dính vào tay ta không thể nhào nặn được Tiếp tục lăn, sẽ  đến lúc phối liệu hết dính, có thể tạo hình, lăn được thành những thanh tròn đường kính vài mm. Hàm lượng nước trong mẫu ở trạng thái này được gọi là giới hạn nhão (tức là hàm lượng nước lớn hơn trị số này, sét sẽ chuyển sang trạng thái nhão. Tiếp tục là như trên, sẽ đến một lúc mẫu không còn dẻo nữa và bị bở ra khi gia công (có những vết nứt, gẫy. Hàm lượng nước ở trạng thái này được gọi là giới hạn dẻo, tức là ở độ ẩm này trở xuống “không còn dẻo nưa”. Hiệu số độ ẩm ở giới hạn nhão và giới hạn dẻo được coi l trị số dẻo của mẫu.
Ở những nguyên liệu gầy, chẳng hạn bột thạch anh, hai giới hạn này thực tế trùng nhau và độ dẻo bằng 0.
(b) Do giới hạn chảy rất khó xác định chính xác, nên R. Rieke đã thay thế hàm lượng nước ở giới hạn chảy bằng hàm lượng nước tạo dẻo, tức là: Chỉ số dẻo là hiệu số hàm lượng nước tạo dẻo và hàm lượng nước ở giới hạn dẻo.
(c) Như trên đã trình bày, khả năng hấp phụ nước của sét cũng có tính đặc trưng cho độ dẻo của sét. Lượng nước này có thể được xác định khá chính xác bằng thiết bị Enslin.
Thiết bị này gồm: ống mao quản M, ống hình chữ U, chén lọc F chén chứa mẫu T, van 3 nhánh D và van hút không khí E, tất cả bằng thuỷ tinh và được nối kín với nhau. Trước khi đo, ống mao quản và ống chữ U được hút hết không khí và đổ đầy nước qua phễu và van 3 nhánh. Mẫu sét khô đã nghiền mịn và cân chính xác được đưa vào chén chứa mẫu sẽ hút nước trong thiết bị qua đáy bằng gốm xốp của chén lọc. Lượng nước bị sét hấp phụ này được đọc ở bảng chia độ trên ống mao quản   là giá trị Enslin và được dùng để đánh giá trị số dẻo của sét.
(d) M.A. Bigot thì sử dụng độ có sấy để đánh giá mức độ dẻo của sét vì kinh nghiệm cho thấy, các thành phần keo dẻo trong sét có mạnh nhất khi sấy Định nghĩa của Ống sét là:
                     Nước khi co x Độ co sấy
Độ dẻo =
                       Nước tổng của sét
(e) K. Pfefferkorn đã thay thế gía trị Atterberg bằng độ biến dạng của một mẫu sét hình trụ khi bị một trọng lượng xác định rơi từ một độ cao nhất định đập vào. Độ biến dạng (độ lún) được định nghĩa là tỷ lệ giữa chiều cao mẫu trước và sau khi biến dạng. Hàm số của độ biến dạng theo hàm lượng nước của một mẫu sét nhất định được thể hiện trên một đồ thị sẽ giúp ta đánh giá độ dẻo của nó.
Do phương pháp này tương đối đơn giản, được dùng khá phổ biến trong các nhà máy cũng như trong các phòng thí nghiệm gốm, giá trị đo có độ lặp lại tốt và đã được công nhận như một tiêu chuẩn đo độ dẻo, nên chúng tôi muốn giới thiệu tỷ mỷ dưới đây:
* Thiết bị
Thiết bị gia công gồm:
- Máy đùn đơn giản (dụng cụ xay thịt) có miệng đùn 30mm;
- Bình dưỡng ẩm.
- Tủ sấy (105 ± 5oC)
- Cân thí nghiệm (± 1g)
- Thiết bị Pfefferkorn gồm một giá đỡ (A có dạng vòng cung được gắn trên tấm đế (B) có các vít điều chỉnh độ thăng bằng  Đầu trên giá đỡ được gắn vào một kết cấu thẳng đứng (C) dùng làm thanh dẫn chuyển động cho tấm đập (E). Trục hình tròn của tấm này chạy tự do trong khe trượt của thanh dẫn. Khe trượt có tiết diện cũng hình tròn nhưng bị mài phẳng một mặt thành một khe hở. Một thang chia đô (mm) được khắc vào mặt này để chỉ thị chiều cao còn lại cùa mẫu sau khi tấm đập E cách mặt đế là 18,5cm Tổng khối lượng của trục và tấm đập là 1,2kg.
* Quy trình thử
Phối liệu sét dẻo có độ ẩm xác định được đùn qua máy và cắt thành những mẫu thử hình
trụ đường kính 30mm, chiều cao 40mm (h0) và được lưu giữ trong bình hút ẩm. Khi đo, tấm đâp được đẩy lên vị trí cao nhất và chốt lại. Mẫu thử được đặt vào vị trí đánh dấu trên đế của thiết bị Pfefferkorn. Sau đó, ta tháo chốt giữ, thả kết cấu rơi tự do đập và làm biến dạng (lún) mẫu thử. Chiều cao sau khi biến dạng của mẫu được đọc trên bảng chia độ. Độ biến dạng (h0/h1) trung bình được tính từ kết quả 5 lần thử. Độ ẩm trung bình (tính theo khối lượng mẫu khô) của mẫu lấy từ 5 lần thử trên cũng được xác định bằng phương pháp sấy và cân thông dụng.
Sự phụ thuộc của độ biến dạng vào độ ẩm mẫu được coi như tuyến tính, vì vậy ta chỉ cần xác định các giá trị trên ở 2 độ ẩm khác nhau trong khoảng tạo hình dẻo của phối liệu để vẽ đường biểu diễn độ biến dạng theo độ ẩm mẫu.
Độ ẩm tương ứng với độ biến dạng 2,5 (trước đây là 3,3) của đường biểu diễn độ biến dạng theo độ ẩm là hàm lượng nước tạo dẻo và được coi là trị số dẻo của phối liệu.
Ở những phương pháp vừa trình bày trên, độ dẻo của sét được xác định gián tiếp thông qua các địa lượng đặc trưng của nó.
(f)  Đối diện với các phương pháp này là môt phương pháp đo trực tiếp độ dẻo. Theo Rosenow, thì tích số của độ bền kéo (K) và độ dãn nở dài (1/1) khi kéo đứt một thanh sét dẻo sẽ cho ta giá trị đặc trưng cho độ dẻo.
6. Cải thiện tính dẻo
Gốm Bình DươngTrong ngành gốm người ta luôn cần có độ dẻo phối liệu cao để liên kết tốt các cấu tử không dẻo trong phối liệu và để có thể gia công dễ dàng. Với các phối liệu có độ dẻo cao, ta chỉ cần một lưc vừa phải để tạo hình sản phẩm mà không gây ra rạn nứt hay những chỗ khuyết bên trong hoặc xáo trộn cấu trúc trong phối liệu. Sự liên kết tốt của các cấu tử trong phối liệu qua việc tạo ra một màng mỏng sét bao quanh cách hạt nguyên liệu gầy làm giảm lực ma sát giữa chúng, tạo khả năng tạo hình thuận lợi.
Tất cả những điều kiện trên càng được thoả mãn tốt hơn khi hạt sét càng mịn. Ở sét mịn, cáo mao dãn nhỏ hơn sét thô, vì vậy ta cần ít nước hơn để tạo thành một hỗn hợp dẻo. Ngoài ra, cấu trúc bề mặt của sét mịn không nhám, nên chỉ cần một lực nhỏ để làm biến dạng (tạo hình) nó. Trong thực tế ta thấy các sét nhiều illite, mixlayer thường có độ dẻo tốt nhất, đúng như suy luận bên trên.
Nhào nặn và ủ sét cũng giúp làm tăng tính dẻo của nó, vì qua đó nước có thời gian ngấm đều vào các mao dẫn và tách rời những hạt dính vào nhau ra. Các loại vi khuẩn, tảo... cũng giúp quá trình “đồng đều hoá” trên đây. Ở nhiều cơ sở sản xuất sứ nổi tiếng, nguyên liệu dẻo được lưu giữ một thời gian dài, có khi cả năm, trong các hầm tối và ẩm chính là nhằm tăng độ dẻo một cách tự nhiên.
Các bọt không khí bên trong phối liệu cũng cần được loại bỏ vì chúng cản trở sự liên kết giữa các hạt và làm giảm độ dẻo. Trong thực tế, người ta đang sử dụng rộng rãi các thiết bị tạo hình có hút chân không đã tăng được độ chặt, độ bền mộc và sau nung của sản phẩm một cách đáng kể.

Nguồn: Đại học Xây Dựng